Một trạm bơm ba pha hỏng động cơ hiếm khi vì bơm yếu. Phần lớn trường hợp là do nguồn điện chập chờn, bể hụt nước hoặc cánh bị kẹt mà không có thiết bị nào cắt kịp. Tủ điều khiển S531 sinh ra để đứng giữa nguồn điện và máy bơm, theo dõi liên tục dòng và áp rồi tự ngắt trước khi cuộn dây kịp cháy.
Tủ này giải quyết những sự cố nào
Màn hình của tủ hiển thị bằng tiếng Việt, nên người vận hành đọc được ngay lỗi đang xảy ra mà không cần tra bảng mã. Sáu nhóm sự cố được tủ theo dõi liên tục trong suốt thời gian bơm chạy.
- Quá tải: dòng làm việc vượt ngưỡng đã ghi nhớ, màn hình báo quá A.
- Thấp tải hoặc chạy không nước: dòng tụt xuống dưới ngưỡng, màn hình báo thấp A.
- Thấp điện áp: điện áp nguồn xuống dưới 340 V, màn hình báo thấp V.
- Quá điện áp: điện áp nguồn vượt 435 V, màn hình báo quá V.
- Kẹt bơm: màn hình báo kẹt.
- Mất pha: màn hình báo mất pha.
Điểm đáng chú ý là nhóm thấp tải. Với máy bơm, dòng giảm không phải tin tốt: đó thường là dấu hiệu bể đã hụt nước và bơm đang quay trong không khí. Đây cũng là tình huống làm hỏng phớt và cuộn dây nhanh nhất, nên việc tủ bắt được nó có giá trị hơn nhiều so với chỉ bảo vệ quá tải.
Vì sao phải dạy cho tủ biết dòng định mức
Tủ không được cài sẵn ngưỡng theo một cỡ máy cố định. Thay vào đó, người lắp cho bơm chạy thật rồi bấm giữ để tủ tự ghi nhớ các thông số của chính chiếc bơm đang đấu vào. Cách làm này giúp cùng một tủ dùng được cho nhiều cỡ bơm khác nhau, nhưng đổi lại nó bắt buộc phải được cài đặt lại mỗi khi thay bơm.
Chừng nào chưa cài, màn hình vẫn hiện tín hiệu chưa b.vệ và bơm chạy trong tình trạng không có gì che chắn. Vì vậy bước cài đặt nên được làm ngay trong buổi nghiệm thu, không để lại sau.
Trình tự cài đặt chế độ bảo vệ
Trước khi bắt đầu, cần biết dòng định mức ghi trên nhãn động cơ và bảo đảm bể còn đủ nước để bơm chạy bình thường trong vài phút.
- Bấm phím MODE để chuyển tủ về chế độ thường.
- Bấm phím START cho bơm chạy.
- Nhìn đồng hồ A trên mặt tủ. Giá trị đọc được phải bằng hoặc thấp hơn một chút so với dòng định mức của động cơ. Nếu cao hơn, phải tìm nguyên nhân trước chứ không cài tiếp.
- Bấm và giữ phím START cho tới khi tủ phát ra tiếng tít thì buông tay.
- Tủ ghi nhớ các thông số cần bảo vệ trong mười giây và tự động đếm ngược trên màn hình.
- Hết mười giây, tín hiệu chưa b.vệ biến mất. Từ lúc này bơm đã nằm dưới sự giám sát của tủ.
Nếu tín hiệu chưa b.vệ vẫn còn sau khi đếm ngược kết thúc, nghĩa là thao tác giữ phím chưa đủ lâu hoặc dòng đo được không hợp lệ. Trường hợp đó nên dừng bơm, kiểm tra lại đấu nối rồi làm lại từ đầu.
Xoá chế độ cũ khi thay bơm
Đây là bước hay bị bỏ qua nhất và cũng gây nhiều phiền toái nhất. Tủ vẫn giữ nguyên thông số của chiếc bơm trước, nên nếu lắp bơm mới mà không xoá thì hoặc bơm mới không được bảo vệ đúng, hoặc tủ báo lỗi liên tục và không cho chạy.
- Bấm phím MODE để về chế độ thường.
- Bấm STOP để dừng bơm.
- Bấm và giữ phím STOP vài giây, tới khi nghe tiếng tít thì buông tay.
- Tín hiệu chưa b.vệ hiện lên trở lại. Đó là dấu hiệu việc xoá đã hoàn tất.
- Cài đặt lại cho bơm mới theo đúng trình tự ở mục trên.
Hai chế độ làm việc
Phím MODE dùng để chuyển qua lại giữa hai chế độ, và chế độ đang chọn hiển thị ở góc phải phía dưới màn hình. Cần nhìn vào góc này trước khi thao tác, vì cùng một phím sẽ cho kết quả khác nhau tuỳ chế độ.
Ở chế độ thường, bơm chạy khi bấm START và dừng khi bấm STOP. Đây là chế độ dùng khi chạy thử, khi cài đặt bảo vệ và khi cần can thiệp bằng tay.
Ở chế độ tự động, bơm làm việc theo tín hiệu phao và hai phím START cùng STOP không còn tác dụng điều khiển trực tiếp. Đây là chế độ dùng cho vận hành hàng ngày, khi không có người trực tại trạm.
Đấu phao cho chế độ tự động
Tủ nhận tín hiệu từ phao đặt ở bể trên, bể dưới hoặc cả hai bể cùng lúc. Việc đấu đúng chân là điều kiện để chế độ tự động làm việc như mong muốn.
- Phao bể dưới đấu vào chân 1, 2, 3.
- Phao bể trên đấu vào chân 4, 5, 6.
- Khi chân 1, 2, 3 thông mạch nghĩa là bể dưới đầy.
- Khi chân 4, 5, 6 thông mạch nghĩa là bể trên đầy.
Cách hiểu tín hiệu này quan trọng khi đi dây: đấu ngược logic sẽ khiến bơm chạy đúng vào lúc đáng lẽ phải dừng. Sau khi đấu xong, nên nhấc và hạ từng phao bằng tay để kiểm tra phản ứng của tủ trước khi bàn giao.
Những lỗi thường gặp khi vận hành
Tủ báo lỗi liên tục ngay sau khi thay bơm gần như luôn là do chưa xoá chế độ bảo vệ cũ. Kiểm tra mục xoá chế độ trước khi nghĩ tới hỏng hóc phần cứng.
Tủ báo thấp A trong khi bể vẫn còn nước thường có hai nguyên nhân: lưới hút bị bịt khiến bơm không lấy đủ nước, hoặc đường ống đẩy hở làm bơm mất tải. Cả hai đều cần xử lý ở phần thuỷ lực chứ không phải ở tủ.
Tủ báo thấp V hoặc quá V lặp lại nhiều lần trong ngày là dấu hiệu nguồn điện khu vực không ổn định. Đây là cảnh báo đáng giá, vì điện áp lệch khỏi dải làm việc là nguyên nhân âm thầm rút ngắn tuổi thọ cuộn dây.
Tủ báo kẹt thì phải cắt điện và kiểm tra cơ khí trước khi cho chạy lại. Bấm chạy lại nhiều lần khi cánh đang bị kẹt sẽ làm hỏng cả động cơ lẫn thiết bị đóng cắt.
Bố trí và bảo dưỡng
Tủ nên đặt nơi khô ráo, có mái che và cao hơn mức ngập của khu vực. Mặt tủ cần quay về hướng thuận tiện quan sát để người vận hành đọc được màn hình mà không phải mở cửa tủ.
Dây tiếp địa phải được đấu đầy đủ. Nên kiểm tra siết lại các đầu cốt sau vài tuần vận hành đầu tiên, vì rung và chu kỳ nóng nguội làm mối nối lỏng dần.
Định kỳ nên ghi lại giá trị trên đồng hồ A và so với giá trị lúc mới cài đặt. Dòng tăng dần theo tháng là dấu hiệu bơm đang nặng tải hơn, thường do cánh mòn hoặc đường ống đóng cáu, và phát hiện sớm giúp xử lý trước khi tủ phải cắt.
Bảo hành và đặt hàng
Sản phẩm có đầy đủ chứng từ và chế độ bảo hành theo quy định của nhà sản xuất. Báo giá gửi khách chưa gồm VAT.
Đơn vị bố trí sẵn hàng tại kho để rút ngắn thời gian chờ. Hàng có sẵn kho với số lượng lớn, đơn chốt trong ngày giao trong ngày.


