Bơm trục đứng nhiều tầng cánh là giải pháp quen thuộc khi cần áp lực cao mà diện tích đặt máy hạn chế. IRG125-200/30 thuộc nhóm này: thân đứng, chiếm chỗ nhỏ, cửa hút và cửa xả nằm trên cùng một đường tâm.
Bên trong máy có gì đáng chú ý
Ổ bi đỡ trục được bôi trơn bằng mỡ hoặc dầu tuỳ thiết kế. Đây là chi tiết hao mòn theo giờ chạy, và tiếng rít khi máy chạy ổn định là dấu hiệu cần kiểm tra.
Khớp nối giữa động cơ và đầu bơm phải đồng tâm. Lệch tâm sinh rung và tải phụ lên ổ bi, đây là nguyên nhân hỏng hóc phổ biến ở máy đặt cạn.
Số liệu cần nắm trước khi lắp
Phần dữ liệu kỹ thuật của máy:
- Model: IRG125-200/30
- Nguồn điện: 3 pha / 380 V
- Công suất: 30 kW
- Lưu lượng: 150 m³/h
- Cột áp: 45 m
- Xuất xứ thương hiệu: Đài Loan
Tủ điện và thiết bị đóng cắt
Tiếp địa và thiết bị chống rò là yêu cầu bắt buộc. Nên kiểm tra lại hệ tiếp địa mỗi kỳ bảo dưỡng lớn.
Công suất 30 kW là căn cứ chọn át tô mát và rơ le nhiệt. Thiết bị bảo vệ đặt sai giá trị sẽ không cắt kịp khi máy quá tải.
Lắp đặt đúng cách
Trước khi chạy lần đầu phải đổ đầy nước vào buồng bơm và ống hút. Chạy khô dù chỉ vài giây cũng đủ làm hỏng mặt phớt.
Với cụm nhiều máy, nên bố trí ống góp đủ lớn và van cách ly cho từng máy. Cách này cho phép bảo trì một máy mà không dừng cả hệ.
Chọn máy thế nào cho khỏi hụt
Không nên chọn máy chạy sát giới hạn cột áp, vì tại đó lưu lượng rất nhỏ. Điểm làm việc hợp lý nằm ở vùng giữa đường đặc tính.
Nên vẽ lại sơ đồ tuyến ống trước khi chốt cỡ máy. Tổn thất cục bộ qua van, cút và thiết bị đôi khi lớn hơn cả chiều cao nâng.
Nói thêm về kỹ thuật
NPSH khả dụng của hệ phải lớn hơn NPSH yêu cầu của máy một khoảng dự trữ. Bể đặt thấp, ống hút dài hoặc chất lỏng nóng đều làm giảm NPSH khả dụng.
Cáu cặn trong đường ống làm tiết diện hẹp dần theo năm tháng. Hệ thống cũ thường cần cột áp cao hơn so với khi mới lắp để đạt cùng lưu lượng.
Theo dõi tình trạng máy
Kiểm tra siết lại bu lông bệ máy sau vài tuần vận hành đầu tiên. Rung trong giai đoạn đầu có thể làm bu lông lỏng dần.
Vệ sinh lưới chắn ở đầu hút. Lưới bị bịt làm máy thiếu nước và có thể dẫn tới xâm thực.
Dùng vào việc gì
Hệ thống làm mát tuần hoàn trong nhà máy đòi hỏi lưu lượng ổn định suốt ca sản xuất. Đây là chế độ chạy dài, nên phần ổ bi và làm kín cần được theo dõi định kỳ.
Hệ thống rửa xe và vệ sinh công nghiệp cần áp lực cao trong thời gian ngắn. Chu kỳ bật tắt dày, nên cần chú ý số lần khởi động mỗi giờ.
Góc kỹ thuật
Chiều cao hút lý thuyết bị giới hạn bởi áp suất khí quyển, và trong thực tế còn thấp hơn nhiều do tổn thất. Đây là lý do máy đặt cạn không thể thay thế máy đặt chìm ở giếng sâu.
Xâm thực xảy ra khi áp suất tại cửa hút tụt dưới áp suất hơi bão hoà, sinh bọt rồi vỡ trên bề mặt cánh. Dấu hiệu là tiếng lạo xạo, hậu quả là rỗ mặt cánh và tụt hiệu suất.
Diễn giải thông số của IRG125-200/30
Điểm làm việc hợp lý của IRG125-200/30 nằm ở khoảng giữa đường đặc tính, đọc theo bảng lưu lượng – cột áp của đúng mã. Cho IRG125-200/30 chạy sát một trong hai đầu dải đều làm giảm tuổi thọ.
Người dùng nên ghi lại 30 kW, 150 m³/h và 45 m của IRG125-200/30 vào hồ sơ thiết bị. Khi hệ thống yếu đi, bộ ba số liệu gốc này của IRG125-200/30 là căn cứ để biết máy đã suy giảm bao nhiêu.
Nếu nhu cầu của công trình vượt quá 150 m³/h, phương án đúng là ghép thêm một máy song song với IRG125-200/30 chứ không phải ép IRG125-200/30 chạy quá dải của nó.
Nguồn điện của IRG125-200/30 là 3 pha 380 V. Đây là điều kiện bắt buộc: nếu công trình chỉ có nguồn khác với 3 pha 380 V thì phải chọn phiên bản khác chứ không thể đấu ép cho IRG125-200/30.
Bảng thông số của IRG125-200/30 ghi rõ 150 m³/h và 45 m; đây là số liệu thử nghiệm với nước sạch. Khi IRG125-200/30 làm việc với chất lỏng đặc hơn, đường đặc tính sẽ tụt xuống so với hai con số đó.
Dòng điện làm việc của IRG125-200/30 tỉ lệ với tải, và mức 30 kW là mốc để đặt rơ le nhiệt. Đặt rơ le cao hơn nhiều so với 30 kW sẽ khiến IRG125-200/30 không được bảo vệ khi quá tải.
Tổng tổn thất trên tuyến ống phải được cộng vào chiều cao hình học trước khi so với 45 m của IRG125-200/30. Bỏ qua bước này là lý do nhiều hệ dùng IRG125-200/30 bị hụt nước ở điểm xa nhất.
Nếu chiều cao nâng vượt quá 45 m, IRG125-200/30 sẽ không còn đẩy được nước tới điểm xả. Khi đó phải chọn model có cột áp lớn hơn 45 m thay vì tăng công suất.
Cột áp lớn nhất của IRG125-200/30 là 45 m. Tại đúng điểm 45 m thì lưu lượng gần bằng không, vì vậy chiều cao nâng thực tế khi dùng IRG125-200/30 nên thấp hơn 45 m để máy còn cho lưu lượng đáng kể.
Khi so IRG125-200/30 với một cỡ máy khác, ba con số cần đặt cạnh nhau là 30 kW, 150 m³/h và 45 m. Chỉ nhìn riêng 30 kW sẽ dẫn tới chọn nhầm, vì công suất không nói lên khả năng bơm của IRG125-200/30.
Chế độ bảo hành
Hàng được bảo hành theo đúng chính sách của hãng, kèm chứng từ đầy đủ. Mức giá trao đổi là giá chưa gồm VAT.
Hàng hoá sẵn sàng cho cả đơn lẻ và đơn số lượng. Hàng có sẵn kho với số lượng lớn, đơn chốt trong ngày giao trong ngày.

